This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Tin mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chùa Bát Nhã. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chùa Bát Nhã. Hiển thị tất cả bài đăng

RỒNG VÀ TÍN NGƯỠNG - HT.Thích Đạt Đạo



Trong mười hai con giáp, Rồng đứng vị trí thứ năm. Mười một con giáp khác là những con vật có thực trong cuộc sống. Chưa ai nhìn thấy rồng, thế nhưng không ai phủ định rồng. Con rồng không có thực, nó không tồn tại một thực thể như cọp, mèo, trâu, ngựa, chó, gà , khỉ …. Nhưng nó tồn tại trong tâm thức mọi người. Khi nhắc đến rồng, người ta hiện ngay trong tâm trí mình một con vật linh thiêng, cao quý. Rồng đã đi vào tâm thức người Việt xuất phát từ cội nguồn dân tộc. Rồng đã đi theo suốt chiều dài hình thành lịch sử dân tộc. Rồng xuất hiện trong cuộc sống như một điềm lành. Rồng gắn liền với quyền uy của vua chúa. Rồng đã vào nơi thờ tự ở chùa chiền. Rồng luôn là con vật mà ai ai cũng ngưỡng mộ và hướng về với lòng kiêng nễ lẫn tự hào.

Con rồng trong dân gian gắn với cội nguồn nòi giống trong sự tích “Con rồng Cháu tiên”. Tổ tiên dân tộc Việt xuất phát từ Lạc Long Quân (vốn là rồng) lấy bà Âu Cơ (vốn là tiên). Bà Âu Cơ đẻ ra một bọc gồm trăm trứng, nở ra trăm con. Năm mươi con theo mẹ lên non. Năm mươi con theo cha xuống miền biển hình thành dòng giống dân tộc Việt. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm Hùng Vương, trải qua mười tám đời Vua, nước Văn Lang ngày càng phát triển cho đến khi đất nước bị mất vào tay của Triệu Đà với sự tích “Trọng Thuỷ-Mỵ Châu”.

Qua gần một nghìn năm bị các triều đình phong kiến Trung Hoa cai trị, dân tộc Việt không ngừng đấu tranh giành lại độc lập. Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng mở đầu kỷ nguyên độc lập. Triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê…. mở mang bờ cõi, xây dựng và bảo vệ đất nước tự chủ. Hình tượng con rồng vẫn tồn tại và biến đổi tùy theo vận nước.

Thời Lý, hình tượng rồng được thể hiện mình thon thon dài, uốn lượn nhiều khúc nhỏ dần về phía đuôi, môi dưới có râu, môi trên có mào, sau gáy có bờm; chân móng sắc như móng chim tung bay giữa mây trời, thể hiện tâm hồn với ước mơ tự do, độc lập.

Thời Trần, hình tượng rồng được thể hiện đầu có thêm tai, cặp sừng, hình dáng đẫy đà, táo bạo, đầy sức sống với khí phách dân tộc ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông.

Thời Hậu Lê, rồng được chọn làm biểu hiện của vua. Mặt vua là long nhan, áo của vua là long bào, giường vua nằm là long sàn , xe vua đi là long xa… chỉ có vua mới được sử dụng hình tượng rồng. Rồng cũng được xếp đầu bộ tứ linh gồm “Long-Lân-Quy-Phụng”. Rồng không còn gần gũi với người dân mà là quyền uy và xa cách.

Thời Nguyễn, rồng được thể hiện qua hình ảnh ẩn hiện trong mây. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau, mắt lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Rồng tượng trưng của uy quyền vua chúa có phần hung hãn, khác với nhận thức trong tâm khảm người dân bình thường.

Rồng của dân gian biểu trưng cho sự tốt đẹp, may mắn và thịnh vượng, là sức mạnh của sự sống. Hình ảnh của rồng là hình ảnh vị thần phun nước làm mưa để dân cày ruộng, mang lại lúa gạo nuôi sống con người.
Rồng xuất hiện là thể hiện cái tốt đẹp, chân-thiện-mỹ. Hình tượng rồng Việt Nam ngậm viên châu trong miệng thể hiện tinh thần tôn trọng các giá trị nhân văn cao quý, sự uyên bác và tinh thần cao thượng.

Hình tượng rồng có vị trí đặc biệt trong văn hoá và tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Rồng là biểu tượng của mưa thuận gió hoà, là tượng trưng cho sự tốt đẹp. Rồng được dân gian đưa vào nơi thờ tự. Có một điều lý thú là, trong các đình, chùa, miếu mạo, nơi thờ tự… người ta không thờ rồng như có nơi tôn tượng thờ ông Cọp ở sân đình. Ở nhiều nơi thờ tự, hình ảnh rồng luôn trong tư thế nằm chầu. Nghĩa là sẵn sàng để bảo vệ, che chở, phục vụ. Rồng uốn lượn trên mái đình. Rồng uốn cong theo cột xây chùa. Rồng nằm phục chầu bên tượng Phật. Đầu rồng nâng bước chân Phật Bà Quan Âm giữa sóng gió biển khơi …Phật Bà đứng uy nghi trên đầu rồng. Rồng xuất hiện cùng Phật bà mang lại sự bình an cho chúng sanh đang chìm đắm trong bể khổ luân hồi.

Trong kinh Phật, rồng xuất hiện trong Thiên Long Bát Bộ gồm Trời, Rồng, Dạ Xoa, Cán Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Gia. Rồng là chúa tể các loài trong nước. Một lần, khi Phật đang nhập định thì trời giổng bão, mưa to gió lớn một con rắn khổng lồ tên là Mucilinda cuộn thành một tàn lớn để che chở đức Phật. Khi đức Phật giảng kinh Diệu pháp Liên Hoa, trong hàng nghìn nghìn đại chúng, thiên, nhơn, phi nhơn đến câu hội có tám vị vua rồng là Nan Đà Long Vương, Bạt Nan Đà Long Vương, Sa Da La Long Vương, Hoa Tu Cát Long Vương, Đức Xoa Ca Long Vương, A Na Bà Đạt Da Long Vương, Ma Na Tư Long Vương, Ưu Bát La Long Vương.

Về cuộc sống thực tế, những người sinh vào năm Thìn, tức năm rồng thường là người có tâm tính bộc trực, tốt bụng, có tâm đạo, biết thương yêu đồng loại, thường hay giúp người kém may mắn. Người tuổi Thìn có trí tuệ sáng suốt, thông minh, học đâu nhớ đó. Làm việc thường sắp xếp kế hoạch rõ ràng. Tuy nhiên, tính tình thường hay cả nể, không hay tranh cãi, không mạnh dạn trong quyết định nên dễ bị đánh mất cơ hội tốt. Thời trẻ, người tuổi thìn chí thú trong học tập, kinh doanh. Khi lớn tuổi tâm đạo càng phát triển, tâm tính càng thuần thục, gần gũi Phật pháp, an dưỡng tâm hồn. Nếu mở rộng thêm tâm bố thí thì phước báu ngày càng thêm, cuộc sống về già an nhàn, tự tại. Tâm thanh tịnh giúp cho lòng trong sáng, trí tuệ sáng suốt, tạo nên hạnh lành, cuộc sống đầy đủ. Người Tuổi Thìn cần :
Nỗ lực, chớ phóng dật !
Hãy sống theo chánh hạnh;
Người chánh hạnh hưởng lạc,
Cả đời này, đời sau.
(Pháp Cú 167)

Năm Nhâm Thìn đến trong hoàn cảnh đất nước phát triển, đời sống người dân được nâng cao, Phật pháp đang trên đà phát triển, giáo lý sáng ngời của đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni luôn là ngọn đuốc soi đường cho chúng sinh xa lìa bến mê, về nơi bến giác. Phật pháp hưng thịnh, Tăng đoàn phát triển, Phật tử tiến tu , Phật sự viên thành.
Hoà thượng Thích Đạt Đạo

CHÙA BÁT NHÃ - BÌNH THẠNH
ĐC: 445/25 Nơ Trang Long, P.13, Q. Bình Thạnh, Tp.HCM
ĐT: 08 35 533 780
Hotline: 0913 966 971
Email: batnha327@yahoo.com

THAM LUẬN: GIÁO DỤC GĐPT VỀ VẤN NẠN XÃ HỘI



Kinh Thưa……

Trong sinh khí phấn khởi của Đại Lễ, Thay mặt chuyên ngành GĐPTVN, chúng con xin trang trọng kính chào chư tôn đức, quý vị Đại biểu trong và ngoài nước, chư vị khách quý và những ai có mặt hôm nay.

Thưa quý vị. Trong Đại lễ nầy, chúng con hân hạnh không những được lắng nghe những phát biểu quý giá của các vị trong công cuộc xây dựng PG, chúng con cũng được Ban Tổ Chức dành cho một thời khoảng để được nói lên nhận thức của mình về đóng góp của PG trong cuộc sống. Riêng phạm vi nhỏ của GĐPT, chúng con xin được đề cập đến Giáo Dục GĐPTVN về Vấn Nạn Xã Hội hiện nay:

Kính thưa chư liệt vị, trong xã hội, hằng ngày những tội phạm và tai nạn luôn xẩy ra được biết qua các phương tiện truyền thông, phần lớn có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tác hại của RƯỢU. Một men chất tưởng chừng vô hại, tạo khoái cảm bởi chất men kích thich các giác quan, dẫn đến những hành động tự mình không làm chủ chính mình.

Ngay thời Phật còn tại thế, Tỳ kheo Sagata lúc say rượu, đã vô lễ nằm đưa chân vào mặt Phật. Không thiếu những gia đình ly tán vì rựơu; một người điều khiển xe có thể gây tai nạn cho người khác bất cứ lúc nào; lúc say rượu, có thể ăn nói thiếu suy xét và hành động không kềm chế, dẫn đến những tội phạm khác mà luật giới từng nói - phạm giới tửu cũng có thể phạm những giới còn lại..

Theo tài liệu nghiên cứu về rượu bia,một ly bia có thể giết chết 100.000 tế bào não, dĩ nhiên tế bào não lành mạnh không thể tái sanh như các tế bào khác khi nó bị hủy diệt. Theo Richard Grom tại đại học Washington - rượu kết hợp với acid béo của não tạo thành một hợp chất gọi là Ethyl ether acid béo làm thay đổi cách thức hoạt động của não.Những tế bào chết một sốt ít được tái sanh nhưng cấu trúc bị thay đổi.

Cha mẹ nghiện rượu ảnh hưởng đến tri tuệ của con cái, chỉ cần 2 ly coctail cồn có khả năng làm chết tế bào não đang phát triển của thai nhi. Tại Mỹ, mỗi năm giết chết 75.000 người do rượu. tuổi thọ 30 năm bị giảm.

Chúng ta chứng kiến rất nhiều những tác hại từ gia đình đến đời sống cộng đồng, từ đau khổ cho nguời thân đến phiền lụy đến xã hội, buộc lòng luật pháp phải can thiệp, biến một người có tự do thành người mất tự do bởi sự trừng phạt của luật pháp, có nghĩa người xử dụng rượu bia là người không biết xử dụng quyền tự do của mình một cách chánh đáng, đưa đền mất tự do, không những mất tự do vì bị rượu bia điều khiển mà pháp luật cũng phải tham dự trong việc mất tự do của chính đương sự.

Trong vấn đề Giáo Dục con em Phật Giáo, trong đó có GĐPT, các anh chị tạo điều kiện để các em thấy sự tác hại của rượu không những trên lý thuyết mà ngay cả thực tế trong cuộc sống chung quanh ta. Đạo Phật là đạo trí tuệ, một tinh thần minh mẫn trong một thân xác khoẻ mạnh, một thân xác khỏe mạnh không thể vì rượu mà nhờ vào cuộc sống tinh khiết nghiêm minh của giới luật. Vì thế, GĐPT là mầm non của Phật giáo và xã hội, chúng ta cần đầu tư nhiều vào tổ chức nầy để tạo một ý thức tự chủ cho các em trước những cám dỗ của rượu bia; trách nhiệm đó không chỉ ở cha mẹ, mà ngay chính sự giáo dục trong PG và đoàn thể GĐPT, làm nền tảng để hành trang cho tuổi trẻ vào đời.

Trân trọng kính chào quý liệt vị

Kính chúc chư tôn đức và quý đại biểu an lành, cầu nguyện cho PGVN ngày một phát triển vững mạnh.

TT.Thích Đạt Đạo



CHÙA BÁT NHÃ - BÌNH THẠNH
Địa chỉ: 445/25 Nơ Trang Long, P.13, Q.Bình Thạnh, Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08 35 533789 - Hotline: 0913 966 971




Bài tham luận:" Hôn nhân khác tín ngưỡng" - HT Thích Đạt Đạo


Đề tài :
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG :
“GIỮ VỮNG NIỀM TIN TAM BẢO TRONG HÔN NHÂN VỚI NGƯỞI THEO ĐẠO CHÚA”

Cuộc sống tạo nên mối giao lưu rộng rãi, thanh niên nam nữ gặp gỡ và nẩy nở tình yêu là lẽ thường tình. Trong xã hội, có người theo đạo, có người không theo đạo. Khi tình yêu của đôi trai gái tiến triển để trở thành hôn nhân thì bắt đầu xuất hiện vấn đề theo đạo nào. Nếu hai người cùng một tôn giáo thì chuyện hôn nhân diễn ra suông sẻ. Ngược lại, trong đó có một bên là người theo đạo Chúa (Công giáo hay Tin lành) thì vấn đề trở nên nan giải vì bên theo đạo Chúa buộc người yêu của mình phải theo đạo Chúa mới được làm lễ cưới. Ở nước ta, đạo Chúa là tôn giáo lớn thứ hai sau đạo Phật, số lượng tín đồ khoảng hơn sáu triệu. Số tín đồ Phật giáo khoảng mười triệu. Số gia đình có truyền thống theo đạo Phật khá đông. Thế nhưng, khi đôi trai gái khác đạo lấy nhau thì một số người theo đạo Phật chìu theo ý nhà chồng (vợ) mà cải đạo để được làm lễ cưới. Trước vấn nạn nầy, người Phật tử phải giữ vững niềm tin tam bảo để không làm mất đi lý tưởng cao cả mà chạy theo cuộc sồng tầm thường.

Hôn nhân là mối quan hệ giữa hai người nam và nữ trưởng thành được luật pháp công nhận qua hình thức đăng ký kết hôn. Luật pháp hoàn toàn không phân biệt tín ngưỡng trong vấn đề hôn nhân. Người nam đủ 20 tuổi và người nữ đủ 18 tuổi, không có quan hệ huyết thống, yêu nhau và tự nguyện sống với nhau thành một gia đình, có đăng ký kết hôn thì được luật pháp công nhận là vợ chồng, bắt đầu nảy sinh quyền và trách nhiệm trong quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên, khi hai người nam nữ sống với nhau thì nảy sinh vấn đề phải cùng nhìn về một hướng chứ không phải là nhìn nhau như khi mới bắt đầu tình yêu. Tục ngữ Việt Nam có câu : “Đồng vợ đồng chồng tát cạn biển Đông”. Vợ chồng cùng tín ngưỡng rất thuận lợi cho việc tạo dựng hạnh phúc gia đình, giáo dục con cái.

Hôn nhân khác tín ngưỡng là hôn nhân giữa một người theo đạo này, một ngưởi theo đạo khác. Ở đây chỉ đề cập hôn nhân giữa người theo đạo Chúa (Thiên chúa, Tin lành) và Phật tử.

Khi một cặp trai gái trong đó một người là tín đồ Thiên chúa, một người là Phật tử, sẽ dẫn đển tình huống :
- Chia tay nhau vì không ai chịu bỏ đạo của minh : không nhiều.
- Phật tử chìu người hôn phối đi nhà thờ học đạo, làm phép cưới và trở thành tín đồ đạo Chúa : số nầy không nhỏ.
- Phật tử chìu người hôn phối đi nhà thờ, học đạo, làm lễ cưới nhưng sau đó bỏ đi nhà thờ : chỉ một số nhỏ, thường tan vở vì thiếu hạnh phúc.
- Phật tử theo học giáo lý, làm lễ cưới và đạo ai nầy giữ : không nhiều. Khi có con thì xảy ra tranh chấp vì người theo đạo muốn con minh theo đạo Chúa.

Số lượng Phật tử có khuynh hướng chìu người hôn phối để cải đạo làm lễ cưới khá nhiều vì những nguyên nhân :
- Phật tử được trang bị kiến thức Phật pháp, giáo lý còn hời hợt chưa sâu sắc. Con em trong gia đình Phật tử có bao nhiêu em được cha mẹ đưa đến chùa quy y, nhận pháp danh. Bao nhiêu em được giáo dục về đấng “Tối cao giác ngộ”. Trong khi đó, đạo Chúa đã có nhận thức sâu sắc giáo dục niềm tin vào đức Chúa trời cho những đứa trẻ ngay khi còn trong bụng mẹ qua những buổi đọc kinh, cầu nguyện hàng ngày, qua “phép Rửa tội, “Phép Thêm sức”… Trong gia đình theo đạo công giáo từ ông bà cha mẹ đến cô bác cậu dì đều ý thức giáo dục đứa trẻ niềm tin sâu sắc vào Chúa trời. Người theo đạo thiên chúa không bỏ đạo Chúa vì Thiên chúa đã đi vào máu, xương tủy của họ. Vậy thì, Người theo đạo Phật cũng phải có hình ảnh đức Phật, giáo lý từ bi, hỷ xã, nhân quả ăn sâu vào máu thịt của minh.

-Đạo Phật không đề ra quy định người hôn phối của Phật tử phải học giáo lý đạo Phật, làm “lễ hằng thuận” mới được công nhận là hôn nhận hợp lệ. Đạo Chúa thì trái lại, họ có quy định cụ thể, rõ ràng cho tín đồ là : Người công giáo phải kết hôn theo nghi thức công giáo, phải tham dự lớp dự bị hôn nhân. Nghĩa là nếu người không theo đạo Chúa không học đạo thì linh mục không được làm phép cưới. Đạo Phật là đạo từ bi, tôn trọng sự tự do của mỗi con người. Do đó, gia đình, đạo tràng ít khi lên án một Phật tử vì tình yêu mà bỏ đạo Phật . Ngược lại, nếu một tín đồ Thiên chúa vì tình yêu mà bất chấp quy định của giáo hội thì chỉ có nước bỏ xứ mà đi vì không chịu nỗi điều tiếng của cộng đồng giáo xứ.

-Đạo Thiên chúa đã có những uyển chuyển linh hoạt để lôi kéo Phật tử theo đạo Chúa. Trước đây Giáo hội khắt khe, ngăn trở vì cho rằng lấy vợ, lấy chồng dị giáo dễ mất đức tin. Ngày nay Công giáo xác định “nếu vì hôn nhân mà làm cho bạn mình tin và sống theo Chúa Ki tô thì cuộc hôn nhân đó có thể được khích lệ xét về mặt truyền giáo. Vì thế, nếu khi có tình yêu với người khác đạo, ta nên dùng chính cơ hội nầy để giúp người mình yêu tin và sống theo Chúa Kitô, gia nhập giáo hội. Công giáo, xem hôn nhân khác tín ngưỡng là một cơ hội để phát triển, mở rộng tín đồ cho tôn giáo của minh. Ngược lại, đạo Phật chưa qua tâm nhiều đến việc giáo dục Phật tử đem ánh sáng Phật pháp nhiệm màu đến cho người khác tôn giáo.

-Đạo Phật không chủ trương lợi dụng hôn nhân để quy nạp tín đồ. Một người theo đạo Phật xuất phát từ niềm tin, ý thức tự giác, từ nguyện, đồng thời rất tôn trọng tín ngưỡng và niềm tin của người khác. Đạo Công giáo thì giáo dục tín đồ của minh trong trường hợp hôn nhân không cùng tín ngưỡng như là một hình thức truyền giáo. Một tài liệu của Đạo Thiên chúa đã hướng dẫn cụ thể những việc cần làm cho tín đồ của mình trong hôn nhân khác tín ngưỡng như sau :
+Phải ngôn ngoan và tế nhị, tránh xúc phạm tới tôn giáo của họ, trái lại tỏ ra tôn trọng niềm tin của họ, đề cao những mặt mạnh của tôn giáo họ và nhấn mạnh những đểm tương đồng, Tránh tranh luận hơn thua về tôn giáo. Phải tạo cho ngườui khác đạo ấn tượng tốt về đạo của minh;
+Áp dụng câu”Nhập gia tùy tục’ để khuyến khích họ theo đạo của mình;
+Phải chấp nhận tính cách tương đối trong động cơ ban đầu thúc đẩy họ theo đạo chỉ để lấy vợ lấy chồng chứ không phải do đức tin hay do được cảm hóa thật sự.
+ Có nhiều cơ hội tiếp theo để cảm hóa và các thế hệ con cháu sẽ là Kitô hữu, được giáo dục theo truyền thống giáo hội. Việc cảm hóa là bổn phận phải làm sau.
+ Điều quan trọng tiếp theo là âm thầm cảm hóa bẳng những gương sáng, bằng đời sống Kitô hữu tốt đẹp trong đạo vợ chồng. Dù có những người chồng không tin lời Chúa, thì họ cũng sẽ được chinh phục nhờ cách ăn nết ở của chị em mà không cần phải nói lời nào. Do đó, bên Công giáo phải cố gắng và hy sinh gấp đôi.
+ Sống đạo Kitô giáo không có nghĩa là bỏ ông bà tổ tiên. Giáo hội luôn khuyến khích thảo kính cha mẹ khi các ngài còn sống cũng như đã chết, năng tưởng nhớ, cầu nguyện, xin lễ.

Với những lời dặn dò cụ thể như thế thì liệu bao nhiêu người Phật tử không xiêu lòng ?

Vậy trách nhiệm của Phật tử phải làm gì để giữ vững niềm tin Phật pháp trong hôn nhân với người có đạo thiên chúa?
- Trước hết, phải xác định mục đích lý tưởng của người Phật tử là đạo giác ngộ và giải thoát, giúp ta không trầm luân, đọa lạc luân hồi. Hôn nhân với người mình yêu có thể đem lại hạnh phúc trong cõi tạm này nhưng vì hôn nhân mà bỏ đạo thì mãi mãi trầm luân trong chốn luân hồi, không được giải thoát.
Đối với các bạn trẻ thanh niên nam nữ chưa lập gia đình phải vững lòng tin tưởng vào tam bảo, khi muốn kết bạn thì cần chọn bạn cùng là Phật tử để tránh rắc rối về sau. Chúng ta đã thấy rõ ở phần nêu trên, người theo Chúa ít khi bỏ Chúa để lấy vợ, lấy chồng. Ngược lại, người theo đạo Chúa lấy vợ, lấy chồng là Phật tử là cơ hội để họ thu nạp thêm tin đồ không phải chính người hôn phối thì cũng sẽ là con cháu của mình sau này phải thành Kitô hữu. Đó là chưa kể do khác đức tín, cuộc sống không dễ dàng cho ta cuộc sống hạnh phúc thật sự.

Hai là người Phật tử phải nhớ là “Đã quy y Phật, Pháp, Tăng rối thi dầu cho thời gian, không gian thay đổi cũng không được quyền thay đổi đạo của mình. Đổi đạo tức là phạm giới mà mình đã phát nguyện lúc quy y tam bảo. Theo Phật là trọn đời tin tưởng niềm tin giải thoát chứ không vì ham muốn dục vọng sắc đẹp mà quên đi lý tưởng cao đẹp mà minh đã tin theo.

Ba là người Phật tử phải thực hành chánh pháp theo bát chánh đạo để có lối sống đạo đức, gương mẫu, giữ gìn tốt năm giới cấm để có cuộc sống “Tri túc, thiểu dục”.
Bốn là không bao giờ mập mờ tin tưởng theo kiểu nói “đạo nào cũng tốt” “Đạo ai nấy giữ” vì chúng ta cần nhớ rẳng Đạo chúa không bao giờ cho phép linh mục làm chủ lễ đám cưới cho hai người có hai đạo khác nhau. Nếu vì quá thương nhau tiến tới hôn nhân theo cách “đạo ai nầy giữ thì chúng ta cần nhớ quy định của Công giáo là người có đạo Thiên Chúa phải xin “phép Chuẩn” nơi tòa giám mục. Nếu không có phép chuẩn thì hôn phối bất thành. Để được phép chuẩn phải hội đủ các điều kiện sau :
- Bản thân người theo đạo Công giáo phải tuyên bố mình sẵn sàng tránh mọi nguy cơ mất đức tin và thành thật cam kết làm hết sức mình để tất cả con cái được rửa tội và giáo dục trong giáo hội Công giáo.
- Phải thông báo cho bên không Công giáo biết những điều bên Công giáo giáo phải cam kết để họ ý thức thật sự về lời cam kết và nghĩa vụ của bên Công giáo.
- Cả hai bên phải được giáo huấn về những mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân mà không bên nào được phép loại bỏ.

Nếu không muốn gặp rắc rối khi tiến đến hôn nhân như trên, người Phật tử cần xác định đối tượng mình tìm hiểu về niềm tin tôn giáo trước khi đặt trái tìm vào người tay người ấy.

Trường hợp hôn nhân khác tín ngưỡng là điều cố tránh nhưng “số phận” đẩy đưa mà người Phật tử phải cam chịu cảnh “đạo ai nầy giữ “ thì cả hai vợ chồng phải nhận thức rằng “ Hạnh phúc của vợ chồng là món quà quý nhất cho đứa trẻ chứ không phải Phật hay Chúa. Anh muốn con anh theo đạo Phật thì anh phải cho vợ con anh thấy cái đẹp, cái lành, cái thiện , tấm lòng vị tha, rông lượng, hiểu biết, yêu thương con người, phải thương yêu chăm sóc, lo lắng cho vợ con, là người chồng mẫu mục, là người vợ thủy chung, tảo tần, đảm đang v…v…Có như thế mới mong có hạn phúc lâu dài cho chính mình và cho con cái. Nhưng dù sau thì con cái vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của người mẹ”vì chín tháng cưu mang, ba năm bú móm” nên đứa con rất dễ chịu ảnh hưởng tôn giáo của người mẹ.

Trách nhiệm của các chùa và các vị tu hành đối với vấn đề hôn nhân khác tín ngưỡng :
1-Tăng cường phổ cập giáo lý Phật Pháp đến Phật tử : Trong vấn đề hôn nhân khác tín ngưỡng các chùa và các thầy có trách nhiệm không nhỏ. Trước hết đó là các thầy cần “Nhập thế nhiều hơn”, nghĩa là không vô tư để Phật tử của mình “từ bỏ đạo Phật” để lấy được vợ, được chồng. Việc đầu tiên là tăng cường công tác hoằng pháp, đưa giáo lý nhà Phật phổ cập rông rãi và sâu sắc hơn đến Phật tử, gia đình và các đạo tràng, làm cho Phật tử ngày càng có niềm tôn kính Phật, tôn kính tam bảo, giữ gìn ngũ giới, làm cho Phật tử nắm vững Phật giáo căn bản của người Phật tử tại gia.
2-Tăng cường rèn luyện phẩm hạnh theo lời Phật dạy cho Phật tử : thường xuyên tổ chức các khóa tu học như “Một ngày an lạc”. “Bát quan trai”, sinh hoạt gia đình phật tử, phát triển hoạt động từ thiện…. để củng cố niềm tin tôn giáo.
3-Biên soạn kinh nhật tụng ngắn gọn, dễ nhớ để tỏ lòng tôn kính Phật, Pháp, Tăng, những lời khấn nguyện nêu bật những dặc tính ưu việt của giáo lý nhà Phật như khuyên tránh làm điều ác, siêng làm điều thiện, yêu thương con người… Phổ biến tranh ảnh, mẫu chuyện về Phật Thích ca, những lời Phật dạycho Phật tử đọc và tụng hàng ngày.
4-Tổ chức cho Phật tử tại gia định hướng cho con em quy y từ nhỏ, thường xuyên cho trẻ con đi chùa lạy Phật. Mỗi gia đình đều có bàn thờ Phật dễ nhìn thấy, dễ dâng hoa, thấp hương, khấn nguyện hàng ngày. Mỗi gia đình tạo thói quen đọc kinh hàng đêm tại nhà bằng bài kinh đã Việt hóa rõ nghĩa.

Một trong những nguyên nhân mà người Phật tử có thể cải đạo để lấy vợ chồng đạo Chúa là chưa có niềm tin vững chãi vào tam bảo, thiếu căn bản kiến thức Phật Pháp. Bên cạnh đó, sự chuẩn bị của giáo hội Phật giáo đối với đề hôn nhân khác tín ngưỡng chưa thật sự chủ động, con mang tính tự phát ở một số chùa, một số tu sĩ. Cần có tiếng nói chính thống của giáo hội Phật giáo về vấn đề này. Thiền sư Nhất Hạnh thì chủ trương”Chúng ta hãy về nhà thôi- Bụt và Chúa là hai anh em” (Tác phẩm Going home, Buddha and Christ as brother” thì cho hôn nhân khác tín ngưỡng cùng tồn tại, ngày rằm và mùng Một hai vợ chồng cùng đi chùa; ngày Chủ nhật hai vợ chồng cùng đi nhà thờ. Linh mục Phạm Ngọc Khuê nhà thờ Phát Diệm phát biểu khi tiếp Thiền sư Nhất Hạnh nói :“ Giáo hội Công giáo không bào giờ ngăn chặn hai người nam nữ thương yêu nhàu và tiến tới hôn nhân với nhau; đó là điều chắc chắn thuộc về giáo luật, không ai có quyền ngăn cản tình yêu của họ, vì đó là tuyệt đối”. Vâng đúng thế, tình yêu thì không ai có quyền ngăn cấm nhưng khi tiến đến hôn nhân thi phải theo quy định của giáo hội. Các bạn trẻ hãy thật sự bình tĩnh khi chọn cho mình đối tượng để khi yêu mà không vì người yêu mà mình phải hy sinh từ bỏ đạo Phật của mình các bạn nhé!



Bài tham luận của Hòa Thượng Thích Đạt Đạo




CHÙA BÁT NHÃ - BÌNH THẠNH
ĐC: 445/25 Nơ Trang Long, P.13, Q. Bình Thạnh, Tp.HCM
ĐT: 08 35 533 780
Hotline: 0913 966 971
Email: batnha327@yahoo.com

TINH THẦN VÌ ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC CỦA MINH VƯƠNG NGUYỄN PHÚC CHU - TT. Thích Đạt Đạo



*DẪN NHẬP
Trong lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn phải đấu tranh chống chọi lại những khắc nghiệt của thiên nhiên như thiên tai, lũ lụt (chuyện Sơn Tinh-Thủy Tinh), chống lại giặc ngoại xâm phương Bắc (chuyện Phù Đổng Thiên Vương-Thánh Gióng, Trọng Thủy-Mỵ Châu)…, nhân dân ta cần cù lao động để xây dựng đất nước (chuyện Mai An Tiêm, chuyện Bánh giày bánh chưng)…Bên cạnh đời sống vật chất, tổ tiên ta cũng sớm có những hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo (chuyện Con Rồng cháu Tiên, chuyện Tiên Dung-Chử Đồng Tử). Và, một may mắn là dân tộc ta sớm tiếp nhận ánh sáng, tư tưởng của Phật giáo. Như nhà sử học Trần Văn Giàu đã viết :” Bình minh của dân tộc ta gắn liền với sự tiếp thu tư tưởng Phật giáo”. Điều này đã làm cho dân tộc Việt Nam có nền văn hóa tương đồng với văn hóa Phật giáo. Trải theo chiều dài lịch sử, có thời gian dài Phật giáo là quốc giáo của nước ta. Điển hình là thời đại Lý-Trần với các nhà sư nổi tiếng Khuông Việt, Vạn Hạnh, đặc biệt là Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Cuối thời Trần, sang thời Hậu Lê, Phật giáo bị thoái trào, đất nước loạn lạc.Giặc Minh phương Bắc lại sang xâm chiến nước ta. Nhà Minh thẳng tay đàn áp, tịch thu sách vở, đốt xé kinh tạng, đập phá chùa chiền, bắt sư sãi phải ra đời.Tội ác giặc Minh vô cùng tàn bạo mong làm cho dân ta mất bản sắc dân tộc. Sau khi giành lại độc lập, các vua Hậu Lê đã chấn hưng đất nước, xây dựng Nhà nước phong kiến theo tư tưởng Nho giáo. Phật giáo không còn giữ vai trò quốc giáo, song đất nước độc lập cũng tạo cho Phật giáo từng bước hồi sinh. Chiến tranh Nam –Bắc triều giữa nhà Lê và nhà Mạc, rồi cuộc chiến Nam-Bắc phân tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn làm cho cuộc sống nhân dân ngày càng lầm than. Người dân càng cần một nơi đã an dưỡng tầm hồn thanh tịnh, hướng về một thế giới an lạc. Trong hoàn cảnh đó ở Đàng Trong, một vị Minh Vương đã có công gây dựng đất nước thanh bình, đưa tư tưởng phật giáo vào trị quốc, cuộc sống nhân dân ấm no. Đó là Minh Vương Nguyễn Phúc Chu.

I-HOÀN CẢNH LỊCH SỬ:
1-Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) là đời chúa thứ 6 ở Đàng Trong. Ngài lên ngôi chúa năm 1691. Trước ngài là chúa Tiên Nguyễn Hoàng (-1613), chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691).

2-Ngài lên ngôi trong hoàn cảnh Đàng Trong vừa trải qua 7 cuộc đại chiến tàn khốc với chúa Trịnh ở Đàng ngoài. Cuộc chiến lần thứ nhất năm 1627, lần thứ hai năm 1633, lần thứ ba năm 1643, lần thứ tư năm1648, lần thứ năm kéo dài từ 1655 đến 1660, lần thứ sáu kéo dài hai năm 1661-1662, lần thứ bảy 1772. Khi ngài lên ngôi, cuộc chiến giữa hai Đàng đã kết thúc gần 20 năm, sau khi chúa Trịnh (Trịnh Căn) và chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Lan) đồng ý chia cắt đất nước lâu dài, lấy sông Gianh làm ranh giới.

3-Cuộc chiến Nam-Bắc phân tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn kéo dài 46 năm, đây là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, sức người, sức của bị hao mòn, lòng người ly tán, đất nước kiệt quệ. Khi cả hai bên đều có lợi thế riêng và có những điểm yếu không thể tiêu diệt nhau thì giải pháp phân chia đất nước đã giúp cho hai Đàng có cơ hội nuôi dưỡng sức dân, xây dựng nền hòa bình riêng, phát triển kinh tế để rồi lại đánh nhau tranh giành cương thổ. (Đúng 100 năm sau vào năm 1772, khi Đàng Trong phải đối phó với ba anh em nhà Tây Sơn nổi lên ở Quy Nhơn, chúa Trịnh kéo đại quân vào đánh chúa Nguyễn).

4-Sau khi lấy sông Gianh chia cắt đất nước, ở Đàng Ngoài chúa Trịnh chuyên quyền, lấn át vua Lê, ở Đàng Trong chúa Nguyễn một mặt phòng thủ để ngăn ngừa sự tấn công của Đàng Ngoài, một mặt chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là chú trọng khai hoang, mở rộng bờ cõi về phương Nam.

II-HOÀN CẢNH XÃ HỘI :
1-Đất nước ta thời kỳ ấy, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Các tầng lớp dân cư gồm 3 thành phần chính là sĩ, nông và binh. Sĩ là các trí thức nho giáo, những người có học thi đậu được bổ nhiệm làm quan, làm ông đồ, làm thầy thuốc. Nông là những người làm ruộng, cày cuốc, chăn nuôi làm ra lương thực, thực phẩm. Binh là lính, thanh niên trai tráng đều phải vào quân đội để sẵn sàng chiến đấu khi Đàng Ngoài xâm lấn hay chống lại sự quấy phá của các nước ở phía Nam như Chiêm Thành…

2-Khi đất nước tạm yên ở hai miền, với chính sách phát triển nông nghiệp, các chúa Nguyễn đã đưa người dân từ các vùng đất khô cằn chật hẹp ở Quảng Nam, Thuận Hóa tiến dần vào phương Nam. Đi đến đâu mở rộng ruộng đất đến đó, cấp đất cho dân trồng trọt, chăn nuôi, dần dần hình thành ấp, thành làng, đặt quan chức trông coi.

3-Thế kỷ XVII, các nước phương Tây đóng được nhiều thuyền to đi biển . Nhiều thuyền buôn các nước phương Tây, Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản đến xin buôn bán ở Đàng Trong (Hội An, Quảng Nam, Quy Nhơn …) đã được các chúa Nguyễn cho phép thông thương, trao đổi hàng hóa, bước đầu hình thành tầng lớp người buôn bán. Đi theo các thương nhân nước ngoài là các tu sĩ đi tìm vùng đất mới để hoằng pháp (các nhà sư Trung Hoa, Ấn Độ ), truyền giáo ( Giáo sĩ Thiên chúa giáo Bồ Đào Nha, Pháp…).

4-Thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Trăn, Nguyễn Phúc Chu nhiều người dân trung thành với Nhà Minh, chống lại triều đại nhà Thanh, bỏ nước ra đi. Họ đến Đàng Trong, Chân Lạp để xin tỵ nạn. Các chúa Nguyễn mở rộng vòng tay cưu mang, cấp cho họ những vùng đất phía Nam để định cư, lập nghiệp ổn định cuộc sống lâu dài, hình thành công đồng người Minh Hương (người Hoa) tại VIệt Nam.
5-Lãnh thổ Đàng Trong, từ khi chúa Tiên -Nguyễn Hoàng vào Nam lấy miền Đất Thuận Hóa, Quảng Nam mở đầu cơ nghiệp là vùng đất hẹp, khô cằn. Phía bắc phải thường xuyên chống chọi lại chúa Trịnh. Phía Nam thường xuyên bị Chiêm Thành mang quân lên đánh phá. Trước tình hình đó, các chúa Nguyễn phải mang quân vào bình ổn. Sau mỗi cuộc chiến với Chiêm Thành, Vương quốc Champa, Thủy Chân Lạp bờ cõi Đàng Trong càng mở rộng về phương Nam. Người Chiêm thành, Champa, Chân Lạp với tín ngưỡng Hồi giáo cùng sống với những người Việt từ phía Quảng Nam, Thuận Hóa chuyển vào.

III-THỰC TRẠNG CÁC TÔN GIÁO:
1- Phật giáo đang trong thời kỳ cuối của thoái trào, đang trên con đường chấn hưng mạnh mẽ:
- Do ảnh hưởng lâu dài của cuộc chiến tranh, nhiều chùa chiền bị tàn phá, nhiều tăng sĩ không có điều kiện tu học.
- Nhiều kinh sách Phật giáo, kinh thư của các chùa bị Nhà Minh đốt bỏ hay tịch thu về Trung Quốc, việc học hành tìm hiểu giáo lý cho các tăng sĩ là vô cùng khó khăn.
- Truyền thống văn hóa dân tộc với đặc thù tương đồng với tư tưởng Phật giáo vẫn còn sâu đậm trong máu, trong tim của mỗi con người Việt Nam. Nhờ thế, dù có trải qua nghịch cảnh thế nào, người dân Việt Nam luôn có lòng thành hướng về Phật pháp. Những nơi có điều kiện thì hầu như chùa được xây dựng, dù nhiều chùa còn đơn sơ. Chính vì thế, các chúa Nguyễn sau khi vào miền Thuận Hóa đã không ngừng cho tu bổ, sửa sang cho chùa khang trang và đẹp đẽ hơn. Điển hình nhất là chùa Thiên Mụ vốn là ngôi chùa có sẵn trên đồi Hà Khê (Huyện Hương Trà- Xứ Thuận Hóa). Nhân dịp đi thăm thú quê hương mới, chúa Tiên nghe kể chuyện tại đây, hàng đêm có bà lão mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện nói rằng :”rồi sẽ có chân chúa lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch”. Năm 1601 chúa Tiên xây lại chùa và đặt tên là chùa Thiên Mụ (tức là chùa của bà lão linh thiêng). Năm 1602 chúa Tiên trùng tu chùa Sùng Hóa….
- Nhiều nhà sư từ Trung Quốc theo thuyền buôn của thương nhân vào Quy Nhơn, Thuận Hóa, Quảng Nam theo tông phái Lâm Tế, Tào Động xây dựng chùa, hoằng pháp bước đầu chấn hưng Phạt giáo Việt Nam theo phái Thiền tông. Nhiều chùa được xây dựng ở Đàng Trong, nhiều danh tăng được dân chúng kính trọng, được các chúa trọng thị. Như nhà sư Hưng Liên phái Tào Động lập Chùa Tam Thai, Quảng Nam; nhà sư Nguyên Thiều lập chùa Di Đà Thập Tháp ở Bình Định ….

2- Vùng đất mới mở mang với tín ngưỡng Ấn Giáo, Hồi Giáo :
Do đặc thù của mỗi vùng đất, người dân Champa, Thủy Chân Lạp phần đông theo tín ngưỡng Hồi giáo, Ấn giáo. Khi cương thổ cùng hòa nhập, tín ngưỡng Hồi giáo, Ấn giáo tồn tại đồng thời với các tín ngưỡng khác trong cộng đồng người Chăm.
3- Cộng đồng người Minh Hương với Phật giáo Bắc Tông:
Những người Hoa trung thành nhà với nhà Minh, khi định cư ở nước ta đã mang theo tín ngưỡng, trong đó có tinh ngưỡng dân gian như thờ bà Thiên Hậu, Quan Thánh đế, Phật giáo Bắc tông Đại thừa …

4- Tín ngưỡng Thiên chúa giáo hình thành phôi thai thông qua các giáo sĩ và thương nhân phương Tây :
Chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu hình thành và phát triển ở châu Âu, hàng hóa thương mại dồi dào, mong muốn tìm kiếm thị trường mới. Nhiều tàu thuyền phương Tây cập bến Quảng Nam, Hội An, Quy Nhơn…Một số giáo sĩ đã đo vẽ bản đồ nước Việt, tìm hiểu cuộc sống người Việt báo cáo về chính quốc. Giáo hội Thiên chúa La Mã đã cử nhiều giáo sĩ sang tìm cách truyền đạo ở nước ta. Các giáo sĩ gặp khó khăn vì họ dùng chữ La tinh, còn nước ta sử dụng tiếng Nôm nên họ đã tìm cách ghi âm tiếng nước ta bằng chữ La-tinh. Giáo sĩ Bá-Đa-Lộc (Alexande De Rhode) là đầu tiên người thực hiện ghi tiếng Việt bằng chữ La-tinh mà mục đích là để truyền bá đạo Thiên chúa. Một số người dân đã theo đạo này, dù họ thường bị người Việt tẩy chay vì họ theo Thiên Chúa mà bỏ thờ cúng tổ tiên ông bà.

IV-NHỮNG TƯ TƯỞNG CỦA MỘT MINH VƯƠNG:
Trước hoàn cảnh lịch sử, xã hội, tôn giáo phức tạp như vậy, khi lên ngôi chúa năm 1691, Nguyễn Phúc Chu phải chọn đường lối thế nào để phát triển đất nước đàm bảo giữ yên bờ cõi phía bắc, mở rộng bờ cõi phía nam, chấn hưng kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ?
Ngài đã cò những suy nghĩ thật sáng suốt, táo bạo và tài tình.

Trước hết, chúng ta nhận thấy :
-Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu sinh ra đời gặp thời vận, nghĩa là sinh phùng thời, hay xuất hiện đúng lúc, đúng thời điểm. Quốc chúa sinh ra đời vào năm 1675, sau khi cuộc chiến tranh Nam-Bắc kết thức được 3 năm. Đàng Ngoài và Đàng Trong lấy sông Gianh làm giới tuyến chia cắt 2 miền. Nạn chiến tranh chết chóc đã qua. Hai Đàng đang lo việc tái thiết.
-Quốc chúa được thừa hưởng từ tổ tiên tinh thần lập quốc. Từ thời khai khẩn đất hoàng vùng Thuận Hóa, Quảng Nam, chúa Tiên và các triều chúa kế tiếp luôn xem trọng việc giữ gìn và mở rộng bờ cõi. Người dân được các chúa quan tâm cấp đất khai khẩn, làm nông nghiệp, tay cày tay gươm, đúng như tình thần hai câu thơ của nhà thơ tướng Huỳnh Văn Nghệ đã viết sau này :”Từ thuở mang gươm đi mở cõi, Ngàn năm còn nhớ đất Thăng Long”. Dòng máu tổ tiên đã hun đúc cho Quốc chúa những quyết định sáng suốt trong cuộc dựng xây bờ cõi, cương thổ quốc triều.
-Quốc chúa được sinh ra và được giáo dục trong môi trường mà ông, cha đều là những người tôn sùng đạo Phật. Chính cha ngài là Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn là một vị chúa hết sức mộ đạo. Chúa Nghĩa đã hai lần cử nhà sư Nguyên Thiều sang Quảng Đông mời các cao tăng danh tiếng trong đó có Hòa thượng Thích Đại Sán sang Đàng Trong truyền đạo Phật, nhưng không mời được vị Hòa thượng nổi tiếng này.
-Quốc chúa lại hữu duyên được gặp Hòa thượng Thạch Liêm (Thích Đại Sán). Với tinh thần cầu đạo pháp, thấm nhuần tư tưởng vị tha, từ bi, hỷ xả, ngài đã tiếp thu tư tưởng Phật giáo đồng thời biết lắng nghe và tiếp nhận những ý kiến tham mưu của Hòa thượng Thạch Liêm trong nội trị, ngoại giao và kinh tế, quốc phòng…Bài Tự của chúa viết trong sách Hải ngoại ký sự của Hòa Thượng Đại Sán ghi:”… Từ lúc đến vào mùa xuân năm Ất Hợi cho tới mùa hạ năm Bính Tý, được gần gũi cung dưỡng. Ngoài chuyện ngày đêm giảng dạy đạo lý, còn chỉ bảo kỷ cương luân thường. Từ chuyện to đến chuyện nhỏ đều vạch lối chỉ đường, phân tích rõ ràng mạch lạc, khác nào dẫn dắt người từ nơi tối tăm ra ánh sáng, giúp ích cho ta trong công việc chính cương trị quốc biết chừng nào…” .
-Quốc chúa gặp được tôi hiền, trung thần hết lòng phó tá. Điển hình là Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, người được Quốc chúa cử vào miền đất phương để Nam kinh lược, xây dựng và xác lập vùng đất Biên Hòa, Gia Định thành cương thổ chủ quyền của chúa Nguyễn.
-Quốc chúa được thụ hưởng một nến giáo dục cẩn thận, sự chuẩn bị chu đáo để ngài có thể nắm giữ trọng trách lãnh đạo triều đình.
-Quốc chúa được nhiều phúc báu, bản chất thông minh, khỏe mạnh, học giỏi võ, văn hay chữ tốt, trí tuệ sáng suốt. Đó phải chăng là phước báu của dân tộc Việt Nam khi có vị chúa như thế để phát triển cương thổ quốc gia to lớn như ngày nay và Phật giáo Việt Nam được chấn hưng trở lại?

IV-NHỮNG CÔNG NGHIỆP MANG TÍNH VÌ ĐẠO PHÁP VÀ VÌ DÂN TỘC:
1- Công nghiệp của chúa Nguyễn Phúc Chu vì Đạo pháp :
a-Xây dựng chùa chiền : Tiếp nối truyền thống tổ tiên, khi lên ngôi chúa, ngài đã cho tu bổ xây dựng thêm chùa chiến như chùa Thiên Mụ, chùa Mỹ Am …

b- Đúc chuông, lập bia:
-Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5 m nặng 3.285 cân ở chùa Thiên Mụ
-Năm 1915, chúa lại cho xây tấm bia cao 2,58 m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch.
Sách Đại Nam Nhất Thống chí quyển Kinh Sư, phần Tự Quán chép :” Hiển Tông Hoàng Đế (Minh Vương Nguyễn Phúc Chu) Canh Dần năm thứ 19 (1710) đúc chuông lớn Chùa Thiên Mụ.”

c- Thỉnh cao tăng lập đàn thuyết pháp, truyền giới, quy y cho quần thần và dân chúng:
Trong bài Tự do chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng trên sách Hải ngoại Ký sự, của Hòa thượng Thạch Liêm chúa ghi :” Ta khi còn làm Thái tử thường hay ngưỡng mộ thầy ta ở chùa Trường Thọ. Vua cha ta lúc trước đã gửi thư hai lần mời mà không được. Mùa thu năm Giáp Tuất ta muốn thọ Bố Tát giới nên nối chí vua cha, ta đưa người qua rước, may được Hòa thượng nhận lời mời…”
d- Thỉnh kinh cho tăng sĩ tu học, chấn chỉnh và nâng cao đạo hạnh chư tăng:
- Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 18, trang 17) chép việc trung tu chùa Thiên Mụ năm 1714 có ghi :”… sai người qua Trung Hoa thỉnh Kinh, Luật, Tạng hơn 1000 quyển …”
e- Tạo điều kiện Phật giáo phát triển:
Dưới thời các chúa Nguyễn trong đó chúa Nguyễn Phúc Chu đã góp phần không ít, Phật giáo được tạo điều kiện phát triển, nhiều nhà sư từ Trung Quốc sang Đàng Trong lập chùa, giảng pháp, thu nhận đệ tử tu học :
- Thiền sư Trung Hoa Nguyên Thiều (1648-1728): vào năm 1677 sư đi theo thuyền buôn sang phủ Quý Ninh (Quy Nhơn),lập chùa Thập Bát Di Đà. Sau đó, sư ra Thuận Hóa xây chùa Quốc Ân .
- Thiền sư Minh Hoằng (thế kỷ XVII) dòng Lâm Tế đời thứ 34 từ Quảng Đông sáng lập chùa Ân Tôn tại Thuận Hóa , nay là chùa Từ Đàm. Trong số những người được sư truyền pháp, có ngài Liễu Quán.
- Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) thuộc dòng Lâm Tế , đời thứ 35. Thiền sư Liễu Quán đã làm cho thiền phái Lâm Tế trở thành một phái linh động, có gốc rễ ở Đàng Trong. Trước ông, Phật giáo ở Đàng Trong mang màu sắc Quảng Đông. Ông đã Việt hóa thiền phái Lâm Tế và làm cho thiền phái này trở thành phái đa số phật tử Đàng Trong.
- Thiền sư Giác Phong lập chùa Thiên Thọ nay là chùa Báo Quốc, ở núi Hàm Long ,Thuận Hóa.
- Thiền sư Từ Lâm xây chùa Từ Lâm trên khu đồi làng Dương Xuân, Thuận Hóa.
- Thiền sư Pháp Bảo , người Phúc kiến lập chùa Chúc Thánh, Quảng Nam.
- Thiền sư Pháp Hoá , người Phúc Kiến, lập chùa Thiên Ấn, Quảng Nam.
- Thiền sư Hưng Liên là người lập chùa Tam Thai ở Quảng Nam. Ngài được chúa Nguyễn Phúc Chu tôn làm quốc sư, trước khi Hòa thượng Thạch Liêm qua Đại Việt. Ngài là đệ tử của Hòa Thượng Thạch Liêm.

g- Bản thân chúa quy y, thọ Bồ tát giới, ăn chay thanh tịnh :
- Năm 1691 Nguyễn Phúc Chu lên ngôi chúa. Năm 1694 chúa mời được Hòa thượng Thạch Liêm sang Đàng Trong. Năm 1695, Hòa thượng Thạch Liêm tổ chức giới đàn ở chùa Thiền Lâm, chúa đã cùng quốc mẫu, công chúa, các hoàng huynh thọ Bồ Tát Giới. Nhiều quan lại của triều đình và dân chúng quy y , thọ giới. Hòa Thương Thạch Liêm đặt cho chúa đạo hiệu là Thiên Túng đạo nhân.

h- Bản thân chúa khiêm hạ, nhúng nhường làm gương cho triều thần, dân chúng:
- Trong bài Tự sách Hải ngoại ký sự, chúa Nguyễn Phúc Chu viết :”Đại Việt Quốc Vương Nguyễn Phúc Chu thọ Bồ Tát Giới pháp danh Hưng Long đãnh lễ, viết vào ngày năm thàng năm năm Bính Tý…

k- Là Phật tử thuần thành, ngài luôn sử dụng pháp danh trong danh xưng:
- Bia đá do chúa Nguyễn Phúc Chu lập ở chùa Thiên mụ năm 1715 có ghi :”…Chúa dựng chùa Thiên Mụ, Chúa Nguyễn Phúc Chu kế truyền chính tông phái Động thượng đời thứ 30, pháp danh Hưng Long, hiệu Thiên Túng Đạo Nhân ghi văn bia và dựng bia bền vững ở chùa Thiên Mụ, xứ Thuận Hóa…” .

2-Những công nghiệp của chúa Nguyễn Phúc Chu vì dân tộc :
a- Mở mang bờ cõi về phương Nam, thu phục lòng người, xây dựng đất nước hòa hợp, đoàn kết. Năm 1962 vùa Chiêm là Bà Tranh kéo quân đánh phá, chùa cho quân đi bắt, nhân thế chúa đổi Chiêm Thành làm trấn Thuận Thành. Năm 1697 đặt Phủ Bình Thuận.Năm 1698 chúa sai Nguyễn Hữu Cảnh chia đất Đông Phố thành hai miền : xứ Lộc Dã (Đồng Nai) làm huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên (Biên Hòa); lấy xứ Xài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (Gia Định).Năm 1708, Mạc Cửu là người Quảng Đông không phục nhà Thanh bò chạy sang Chân Lạp được vua Chân Lạp cho khai khẩn vùng đất Hà Tiên. Năm 1709, Mạc Cửu xin đem đất đó quy thuận chúa Nguyễn.
b-Dùng người Phương Tây để huấn luyện binh pháp và kỹ thuật quân đội.
c-Mở rộng thương cảng cho tàu thuyền các nước vào tự do buôn bán.
d-Trong việc chính sự biết lắng nghe lời góp ý của Hòa thượng Thạch Liêm để bớt thuế khóa, giảm hình ngục.
e- Trong ngoại giao đối xử khéo léo khiến người Trung Hoa phải gọi ngài là Quốc Vương Đại Việt dù ngài không được vua Thanh tấn phong Vương hiệu.

*KẾT LUẬN:
Sự phát triển Phật giáo ở Đàng Trong chính là do các chúa Nguyễn đã nhận thức rõ tầm quan trọng của tư tưởng Phật giáo. Các chúa Nguyễn lấy tư tưởng Phật giáo để giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc.
Tư tưởng Phật giáo đã được các chúa Nguyễn mà điển hình nhất là Minh Vương Nguyễn Phúc Chu, một vị chúa sáng suốt đã đem ánh sáng Phật pháp để lãnh đạo đất nước. Ngài đã làm cho đất nước bờ cõi mở rộng, chùa chiền phát triển, tăng sĩ cống hiến giúp đời, trong cuộc sống xã hội thì nhẹ thuế khóa, giảm bớt hình ngục, vua yêu thương con dân, chăm lo việc nước ngày càng cường thịnh.
Chúa Nguyễn Phúc Chu là một vị Minh chúa, biết lắng nghe lời nói thẳng, biết dựa vào sức dân. Ngài trọng dụng người tài, sử dụng người theo khả năng của họ. Biết tạo uy thế để giữ bờ cõi.
Dưới thời đại của chúa Nguyễn Phúc Chu, cuộc sống dân chúng được thanh bình, dân tộc hòa hợp. Nhiều tôn giáo khác như Hồi giáo, Ấn giáo của người Chiêm Thành, Chân lạp, Champa, đạo Thiên chúa hầu như không được phát triển. Đạo Phật ở Đàng Trong đã giữ vị trí hưng thịnh.
Tư tưởng yêu nước thương dân và mong muốn mọi người dân hướng về Phật pháp của chúa Nguyễn Phúc Chu thể hiện rõ trong bài minh trên chuông chùa Thiên Mụ do chính chúa viết như sau :
Duy nguyện phong vũ điều thuận, quốc thái dân an, pháp giới chúng sinh đồng viên chủng trí ( Nguyện cầu gió hòa mưa thuận, nước thịnh dân an, chúng sinh trong pháp giới đều vẹn tròn trí tuệ”).

Quả thật lãnh thổ Đàng Trong của các chúa Nguyễn đã trải qua hàng trăm năm mưa gió thuận hòa, nước mạnh, dân an lành. Chúng ta vô cùng khâm phục khi ngài nguyện chúng sinh trong pháp giới vẹn tròn trí tuệ. Chỉ có con người hiểu phật pháp sâu sắc mới có nguyện cầu toàn dân có trí tuệ. Trí tuệ chính là kết quả của quá trình công phu giữ “Giới –Định” để được “Huệ”. Khi con người có trí tuệ thì con người nhận rõ chân thực của cuộc đời. Tức là giác ngộ.
Đó chính là công nghiệp to lớn nhất của Minh Vương Nguyễn Phúc Chu vậy.


HT.Thích Đạt Đạo

CHÙA BÁT NHÃ - BÌNH THẠNH
ĐC: 445/25 Nơ Trang Long, P.13, Q. Bình Thạnh, Tp.HCM
ĐT: 08 35 533 780
Hotline: 0913 966 971
Email: batnha327@yahoo.com